Những bất cập trong công tác định giá đất đai tại Việt Nam

Những bất cập trong công tác định giá đất đai tại Việt Nam

30/09/2019

-

aavc .vn

-

0 Bình luận

Những bất cập trong công tác định giá đất đai tại Việt Nam

Những bất cập trong công tác định giá đất đai ở nước ta

     

Đất đai là tài nguyên quan trọng của quốc gia, việc ước lượng giá đất chính xác sẽ góp phần nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước trong việc quản lý thị trường bất động sản nói chung, thị trường nhà đất nói riêng. Thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định, tăng nguồn thu cho ngân sách và đóng góp thiết thực cho công tác an sinh – xã hội.

Trong các năm qua nhờ vào sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ chúng ta đã có khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh phục vụ cho công tác định giá đất/thẩm định giá đất (trong bài viết này gọi thống nhất là định giá đất) như: Luật Đất đai, Luật Giá, Luật Kinh doanh bất động sản. Các văn bản dưới luật, hướng dẫn thực hiện như: Thông tư 36 /2014/TT–BTNMT ban hành ngày 30/6/2014 Quy định chi tiết về phương pháp định giá đất…. Thông tư 126/2015/TT-BTC Ban hành ngày 20/8/2015 Về việc ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 8,9,10. Thông tư 145/2016/TT-BTC ban hành ngày 6/10/2016 về ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 11…Các văn bản pháp quy trên đã quy định các cách tiếp cận (approaches) cũng như các phương pháp (methods) định giá đất cụ thể và có các phụ lục hướng dẫn kèm theo giúp người sử dụng có cơ sở trong việc thực hiện.

Tuy nhiên, nghề định giá đất ở nước ta mới bắt đầu phát triển từ những năm 2002 (cột mốc từ Pháp Lệnh Giá)Do vậy, các quy định về định giá đất hiện nay, đặc biệt về các cách tiếp cận trong việc ước lượng giá đất có nhiều bất cập từ cơ sở lý luận, đến tính chủ quan trong quá trình ước lượngvà tính cập nhật còn nhiều hạn chế. Điều này dẫn đến các hệ lụy là: Các tổ chức định giá đất sẽ có nhiều rủi ro pháp lý, đặc biệt khi định giá đất phục vụ cho các mục đích bán đấu giá, bồi thường, giải phóng mặt bằng… Nhà nước có khả năng thất thu hoặc không có nguồn thu kịp thời vì không bán được tài sản do một số trường hợp việc ước lượng giá đất có chênh lệch cao so với giá trị thị trường, cơ quan quản lý Nhà nước có thể lúng túng đưa ra các kết luận về giá đất khi giao đất,cho thuê đất , haythường xuyên xảy ra khiếu kiện, tranh chấp liên quan đến các quyền lợi từ đất đai…

Dưới giác độ học thuật, trong phạm vi bài viết chúng tôi sẽ phân tích các bất cập chính hiện nay về vấn đề trên như sau:

1.     Định giá đất phục vụ cho nhu cầu thị trường và định giá đất phục vụ cho quản lý Nhà nước có sự khác biệtnhất định.

Thực tế việc định giá đất phục vụ cho nhu cầu thị trường và quản lý Nhà nước tại các nước phát triển là hai vấn đề tách biệt, bởi vì giữa chúng mặc dù có nhiều điểm tương đồng và cũng có nhiều điểm khác biệt nhau. Cụ thể là:

+ Giống nhau:

-         Cùng vận dụng các cách tiếp cận thể hiện qua các phương pháp ước lượng nhằm ước lượng giá đất theo yêu cầu.

-         Cùng vận dụng các nguyên tắc, quy trình định giá làm cơ sở đề phân tích và ước lượng.

-         Là nghiệp vụ chuyên nghiệp, cần được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức

+ Khác nhau:

Định giá đất phục vụ công tác quản lý Nhà nước

Định giá đất phục vụ nhu cầu thị trường

Các cơ quan Nhà nước là các đơn vị sử dụng kết quả

Chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thị trường.Cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức…sử dụng kết quả

Kết quả thường là biên độ giá hoặc một mức giá

Kết quả là một mức giá.

Giá trị ước tínhlà giá trị hợp lý(fair - market value)hay giá trị cận thị trường.

Giá trị ước tính chủ yếu là giá trị thị trường (market value)

Chủ yếu vận dụng những phương pháp phù hợp với quy định trong luật pháp nước sở tại.

Vận dụng những phương pháp phù hợp với luật pháp nước sở tại và thông lệ quốc tế.

Định giá cho hàng loạt lô đất hay từng lô đất riêng lẻ.Chủ yếu là định giá đất cho từng đoạn đường, khu vực, khu đất có quy mô diện tích đất lớn

Thẩm định giá trị cho từng lô đất cụ thể

Phương pháp sử dụng phổ biến là định giá hàng loạt (mass appraisal/valuation)

Phương pháp sử dụng phổ biến là:So sánh, chiết trừ, vốn hóa trực tiếp tiền thuê đất (Ground rent capitalization method), vốn hóa phần dư từ đất (land residual capitalization method) và phát triển chia nhỏ (Subdivision development method) ở nước ta gọi là thặng dư.

          Nguồn: Tác giả tổng hợp

Điểm khác nhau cơ bản khi định giá đất phục vụ công tác quản lý Nhà nước (cadastral land valuation)như xây dựng bảng giá đất là ước lượng giá đất trên khu vực rộng lớn như tuyến đường, khu vực hay dự án do vậy, tại các nước phát triển thường sử dụng công cụ thống kê, dựa trên bộ dữ liệu lớn (big data) thường xuyên cập nhật. Định giá viên sau khi làm sạch dữ liệu sẽ ước lượng giá trị trung bình (mean) và độ lệch chuẩn (standard deviation), kết quả thống kê là: Xoay quanh giá trị trung bình sẽ có xác suất khoảng 68% giá đất nằm trong biên độ ± α  (độ lệch chuẩn) có đến 95% giá đất nằm trong biên độ ± 2α và khoảng 99,7% nằm trong biên độ ± 3α. Ví dụ nếu giá trị trung bình: 10 triệu đồng/m2 với độ lệch chuẩn từ kết quả thống kê là 0,1 (α= 0,1) có nghĩa là: Giá đất cần định giá trong biên độ 9,9 – 10,1 triệu đồng/m2 có xác suất trúng khoảng 68%, trong biên độ 9,8 – 10,2 triệu đồng/m2sẽ có xác suất trúng khoảng 95% và trong biên độ 9,7 – 10,3 triệu đồng/m2sẽ có xác suất trúng khoảng 99,7%. Cơ quan quản lý Nhà nước sẽ có căn cứ vững chắc khi ra quyết định về giá đất. Trong khi đó, định giá đất phục vụ nhu cầu thị trường thì ước lượng trên từng lô đất/thửa đất riêng lẽ (trong bài viết thống nhất gọi là lô đất) do vậy, cần tính toán theo các cách tiếp cận phù hợp như so sánh, chi phí và thu nhập, tất nhiên trong quá trình ước lượng giá đất thẩm định viên có thể tham khảo các dữ liệu các số liệu thống kê nêu trên kết hợp với các phân tích đặc thù của lô đất để đi đến các kết luận cuối cùng. Việc làm này giống như bác sĩ điều trị sẽ kết luận chính xác hơn khi khám bệnh và đã có các kết quả xét nghiệm, tầm soát khác.

Ở nước ta, chưa có sự phân định giữa công tác định giá phục vụ công tác quản lý Nhà nước hay phục vụ nhu cầu của thị trườngvì vậy, khi định giá phục vụ quản lý Nhà nướcvới quy mô diện tích lớn như lập bảng giá đất, đất dự án…Nhân viên định giá không có bộ số liệu lớn (big data) để phân tích do vậy, thường sử dụng các phương pháp so sánh giá bán, chiết trừ, thu nhập hay thặng dư dùng cho các lô đất riêng lẻ.Do vậy,dẫn đến kết quả định giá có thể gây tranh cải, rủi ro trong công việc định giá đất phục vụ quản lý Nhà nước cao.

Mặc khác, những ngộ nhận trong việc tìm kiếm giá trị phi thị trường (non - market value) cho lô đất cần định giá nhằm phục vụ cho các mục đích như: Đấu giá, xử án, bồi thường, thu thuế, thu phí, thế chấp, phân chia tài sản…Định giá viên thường tìm kiếm các dữ liệu vừa chuyển nhượng xong trong điều kiện bình thường được hiểu là giá trị thị trường (market value) để ước lượng là không chuẩn về lý luận. Nếu chúng ta lấy dữ liệu là giá trị thị trường để phân tích thì kết quả tìm được sẽ là giá trị thị trường. Hay nói cách khác chúng ta có dữ liệu là giá chuyển nhượng, sau phân tích giá lô đất ước tính phải là giá chuyển nhượng, dùng kết quả này áp cho mục đích định giá là thu thuế, thu phí, bồi thường, xử án… sẽ sai về mặt lý luận. Như đã trao đổi phần trên, định giá đất phục vụ công tác quản lý Nhà nước chủ yếu là tìm kiếm giá trị phi thị trường do vậy, lấy dữ liệu chuyển nhượng là giá trị thị trường để ước tính là chưa chuẩn.

2.     Nguồn dữ liệu thông tin thị trường kém minh bạch

Thông tin là yếu tố đầu vào quan trọng, quyết định độ tin cậy của công tác định giá đất, chúng ta đều biết nếu thông tin càng kém tin cậy sẽ dẫn đến kết quả càng sai lệch hay nói cách khác: “Rác vào thì rác ra”. Nguồn dữ liệu phục vụ công tác định giá đất nước ta hiện nay dựa trên các chứng cứ thị trường vừa thiếu vừa kém tin cậy. Thực tế cho thấy các giao dịch đất đai thông qua công chứng mặc dù đều tuân thủ các quy định của pháp luật trong giao dịch tuy nhiên, việc thể hiện giá trị thực trên hợp đồng hay không là câu chuyện khác. Nếu giá giao dịch trên hợp đồng chênh lệch nhiều (thường thấp hơn nhiều) so với giá giao dịch thực tế thì việc khai thác các số liệu “chính thống” trên sẽ không đủ điều kiện sử dụng. Một số tổ chức tư vấn, kinh doanh bất động sản đôi khi có các báo cáo phân tích thị trường, xét về mặt lý luận các số liệu này chỉ có ý nghĩa tham khảo bởi vì không loại trừ các quan điểm về giá bất động sản trong báo cáo đâu đó vẫn có tính đến lợi ích của bên công bố (phục vụ cho mục tiêu riêng của họ), điều này khó có sự kiểm chứng về mức độ tin cậy và rất dễ thiên lệch về giá. Đối mặt với vấn đề trên, các tổ chức tư vấn định giá đất sẽ sử dụng các số liệu riêng của mình và thường xuyên phân tích dựa trên các số liệu rao bán, nhân viên định giá suy diễn ra giá giao dịch dựa trên kinh nghiệm thị trường, đồng thời không có nhiều thông tin về lô đất đó do vậy, việc bỏ sót các yếu tố khác biệt trong quá trình điều chỉnh là điều khó tránh khỏi. Điều này dẫn đến các hệ lụy là giá đất ước lượng của các công ty khác nhau trên cùng lô đất, cùng thời điểm và mục đích định giá nhưng có thể có các giá trị chênh lệch cao.

3.     Các phương pháp ước lượng giá đất còn nhiều bất cập

Nghề định giá nước ta còn non trẻ, là quốc gia đi sau, chúng ta có lợi thế về việc cập nhật các kiến thức, kinh nghiệm quốc tế trong nghiệp vụ định giá đất từ lý thuyết, phương pháp luận cho đến các trải nghiệm thực tế. Tuy nhiên, trải qua gần 2 thập niên hình thành và phát triển việc hoàn thiện các vấn đề cơ bản như phương pháp, tiếp cận chúng ta vẫn có nhiều vấn đề cần bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển chung của nghề. Trong phạm vi bài viết chúng tôi đề cập sâu hơn đến các vấn đề chính của các các tiếp cận như sau:

§ Phương pháp hệ số điều chỉnh có lý luận không ổn.

Như đã trình bày phần trên, phương pháp hệ số điều chỉnh không có trong vận dụng tại các quốc gia phát triển. Khi nghiên cứu về phương pháp này chúng tôi nhận thấy có bất cập trong cơ sở lý luận bởi vì, theo hướng dẫn trong Thông tư 36 giá đất của lô đất xác định bằng giá đất trong bảng giá đất nhân với hệ số điều chỉnh. Vấn đề ở chỗ hệ số điều chỉnh được xác định bằng giá đất phổ biến chia cho giá đất trong bảng giá đất, mô phỏng phương pháp này qua hàm như sau:

 

 

Trong công thức này mặc định hiểu rằng đơn giá bình quân của lô đất  (vế trái) chính là đơn giá đất phổ biến trên thị trường (vế phải). Vô hình chung cái mà chúng ta cần tìm bên vế trái đã có sẵn trên vế phải! Về nội hàm chúng là một chỉ đơn giản chúng ta gọi chúng bằng 2 cách gọi khác nhau. Xét về công thức không sai, nhưng xét về mặt thực tiễn không tìm kiếm đại lượng khi chúng đã có sẵn (trực tiếp) trong lời giải.

Từ các lập luận trên chúng tôi đề xuất cơ quan quản lý cân nhắc không đưa phương pháp này vào trong quy định nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế và không sai về mặt lý luận.

§ Cách ước lượng giá đất trong phương pháp thu nhập chưa chuẩn về mặt lý luận.

Điều 5, của Thông tư 36/2014/TT BTNMT có quy định về công thức ước tính giá trị của thửa đất cần định giá. Mô phỏng qua công thức sau:

 

 

 

Dưới giác độ nghiên cứu cơ sở lý luận của cách tính này có vấn đề quan tâm sau:

-         Trên cùng hàm số các đại lượng phải có mối quan hệ (tương quan) chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, hàm số ước lượng giá trị lô đất trình bày trên chúng ta không rõ mối quan hệ giữa thu nhập ròng bình quân của lô đất với lãi suất tiết kiệm bình quân của ngân hàng. Có chăng mối quan hệ với lãi suất tiết kiệm bình quân chính là tiền lãi (lợi tức) tiền gửi tiết kiệm ngân hàng trong năm đó và tất nhiên giá trị bên vế phải không phải là giá trị lô đất mà phải là giá trị vốn gốc của khoản tiền gửi tiết kiệm trong năm. Nói khác đi giữa tử số và mẫu số của hàm phải có mối quan hệ trực tiếp (nguyên nhân – hệ quả) với nhau Trong lý luận chúng tôi hay ví von là: “nồi nào vung nấy”Ví dụ minh họa cho vấn đề này như sau: Nếu ta gửi tiết kiệm số tiền 1 tỷ đồng thời hạn 1 năm với lãi suất: 8%/ năm. Có nghĩa rằng lãi hay lợi tức từ việc gửi tiền trên sau 1 năm là 80 triệu đồng (1000 triệu đồng x 0,08 = 80 triệu đồng). Về bản chất 80 triệu đồng chính là tiền lãi được tạo ra trong tương lai từ việc gửi tiết kiệm 1 tỷ đồng trong 1 năm với lãi suất 8%/năm. Nếu lãi suất là 9% hay 7%/năm thì tiền lãi tương ứng sẽ là 90 hay 70 triệu đồng. Mối quan hệ giữa tiền lãi, lãi suất và vốn gốc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mô phỏng công thức tính trường hợp trên:

 

 

-         Việc xác định tỷ suất vốn hóa từ đất có thể xác định bằng nhiều giải pháp như: Chiết suất từ các dữ liệu tương đồng trên thị trường, thông qua tỷ suất vốn hóa chung (đất và công trình), xây dựng hàm để tính… Tất cả điều này có trong hướng dẫn của nhiều tài liệu trong và ngoài nước như The Appraisal of Real Estate 13th Edition, Nguyễn Ngọc Vinh, Nguyễn Quỳnh Hoa (2012) Giáo trình thẩm định giá trị bất động sản

-         Bản chất của tỷ suất vốn hóa từ đất (mẫu số) là chỉ số đo lường các rủi ro có thể có trong kỳ nhằm tạo ra thu nhập trên tử số. Nếu rủi ro càng ít thì thu nhập tương xứng ít và ngược lại, khi rủi ro cao thì phần bù rủi ro tạo ra thu nhập phải cao. Nếu ta đem thu nhập ròng của lô đất chia cho phần bù “rủi ro” từ việc gửi tiền tiết kiệm, đồng nghĩa với việc thu nhập tạo ra từ đất và tiền lãi gửi tiết kiệm có rủi ro ngang nhau là bất hợp lý.

-         Khi nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi nhận thấy rằng phương pháp ước tính giá trị lô đất thông qua lãi suất tiết kiệm ngân hàng có trong các quy định của chúng ta và trước đây tại một số nước trong khối xã hội chủ nghĩa cũ. Phương pháp này ra đời trong bối cảnh kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thị trường đất đai hầu như không phát triển. Ngày nay kinh tế nước ta chuyển đổi sang kinh tế thị trường, thị trường bất động sản nói chung, thị trường đất đai nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ do vậy, việc áp dụng tư duy cũ cho vấn đề mới chắc rằng không còn phù hợp.

-         Ngoài ra theo Thông tư 36/2014/TT-BTN của Bộ Tài nguyên và Môi trườngthu nhập ròng của đất được tính như sau:Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì thu nhập ròng hàng năm được tính trên cơ sở thu nhập và chi phí bình quân của 3 năm liên tục tính đến thời điểm định giá.Tức là, thu nhập ròng của đất được tính căn cứ vào thu nhập quá khứ. Điều này không phù hợp với lý luận và thông lệ thẩm định giá quốc tế theo đó:Định giá viên phải ước lượng thu nhập ròng bình quân 1 năm của lô đất  trong tương lai (sau 1 năm) và chuyển thu nhập này về giá trị hiện tại bằng tỷ suất vốn hóa của đất như công thức nêu ở phần trên. Thu nhập quá khứ cũng như hiện tại rất có ý nghĩa, nhưng điều cần quan tâm là tương lai. Thu nhập quá khứ chỉ quan trọng khi người mua chấp nhận nó như là một chỉ dẫn của tương lai. Thu nhập hiện tại là một chỉ dẫn, một điểm khởi đầu tốt, nhưng chiều hướng và kỳ vọng sự thay đổi trong thu nhập là mới là điều then chốt trong phương pháp vốn hóa thu nhập. Do vậy, thu nhập quá khứ chỉ là dữ liệu tham khảo phải kết hợp với những thay đổi dự kiến trong tương lai về chi phí giống, vật tư nông nghiệp, công lao động, kỹ thuật sản xuất, chính sách Nhà nước... để ước tính thu nhập ròng của đất trong tương lai.

Thiết nghĩ, cơ quan quản lý nghiên cứu điều chỉnh cách ước lượng của phương pháp thu nhập theo quan điểm hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Kết luận.

Hoạt động định giá đất ở nước ta từng bước phát triển mạnh mẽ trong các năm qua, cơ quan quản lý Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn góp phần đáng kể cho sự phát triển thị trường bất động sản nói chung, thị trường đất đai nói riêng. Tuy nhiên, còn có những bất cập trong cơ sở lý luận và phương pháp luận do vậy, chúng tôi kiến nghị các cơ quan quản lý Nhà nước những vấn đề sau:

-         Tách định giá đất đai phục vụ công tác quản lý Nhà nước ra khỏi định giá đất phục vụ cho nhu cầu thị trườnggiống như các nước phát triển. Tiếp cận chủ đạo trong định giá đất phục vụ  quản lý Nhà nước (xây dựng bảng giá đất, định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tính thuế ... ) là định giá hàng loạt dựa trên phân tích thống kê với bộ dữ liệu lớn (big data) tính chính xác cao hơn và thuyết phục hơn trong quá trình vận hành. Khi Nhà nước định giá cho từng lô đất riêng lẻ phục vụ cho đấu giá hay chuyển nhượng thì cũng vận dụng phương pháp thẩm định hàng loạt để có các chỉ số giá cơ bản sau đó vận dụng thêm các tiếp cận phù hợp để điều chỉnh các đặc điểm của lô đất.

-         Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng và quản lý hệ thống thông tin về thị trường đất đai, từ quy trình đến cơ chế vận hành, cụ thể trách nhiệm của từng bộ phận... Việc số hóa các dữ liệu thị trường đất đai và cập nhật theo quy trình sẽ giúp cơ quan quản lý Nhà nước có dữ liệu để định giá hàng loạt vừa đánh giá đúng thực trạng cũng như có cơ sở trong việc dự báo xu hướng phát triển.

-         Cân nhắc không sử dụng phương pháp hệ số điều chỉnh trong quy định, như đã trao đổi phương pháp này chưa có cơ sở lý luận rõ ràng và cũng không có trong thông lệ quốc tế.

-         Đề nghị cơ quan quản lý cập nhật các phương pháp tính giá đất phổ biến trên thế giới và điều chỉnh cách xác định giá trị lô đất bằng phương pháp thu nhập thông qua lãi suất huy động bình quân của các ngân hàng và thu nhập ước lượng từ dữ liệu bình quân từ quá khứ  như đã phân tích trên, nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của nước ta.

-         Bổ sung phương pháp phân bổ (Allocation Method) nhằm đa dạng hóa các phương pháp ước lượng giá đất.

Chúng ta điều biết, sự phát triển của tất cả các lĩnh vực nền kinh tế chịu tác động bởi yếu tố thời gian và công nghệ, khi trình độ phát triển càng cao sự thay đổi càng nhanh, đặc biệt dưới tác động của công nghệ 4.0, trí tuệ nhân tạo - AI (artificial Intelligence), Internet kết nối vạn vật (Internet of things), điện toán đám mây (Cloud Computing)…Lĩnh vực định giá đất đai không ngoại lệ, việc nhanh chóng thích ứng và hội nhập cùng với sự phát triển chung sẽ thúc đẩy lĩnh vực này tiệm cận hơn với sự phát triển của các nước trên thế giới và góp phần quản lý chặt chẽ tài nguyên vô giá của chúng ta.

 

1.        Thành viên ban nghiên cứu bao gồm:

Nguyễn Ngọc Vinh, Nguyễn Thế Phượng, Tô Công Thành, Nguyễn Ngọc Châu, Hồ Đắc Hiếu, Nguyễn Văn Trung, Trần Thị Mười.

Tài liệu tham khảo:

-    Thông tư 36 /2014/TT–BTNMT ban hành ngày 30/6/2014. Quy đinh chi tiết phương pháp định giá đất, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn giá đất.

-    Thông tư 126/2015/TT-BTC Ban hành ngày 20/8/2015 Về việc ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 8,9,10.

-    Thông tư 145/2016/TT-BTC ban hành ngày 6/10/2016 về ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 11

 

-    Eckert, J., 2006. Computer-assisted mass appraisal options for transition and developing countries. International Studies Program, Working paper 06-43, Georgia State University, Andrew Young School of Policy Studies.

-    Kauko T. (2008) Mass appraisal methods, Wiley blackwell Ltd publication

-    Kontrimas, V. and Verikas, A., 2011.The mass appraisal of real estate by computational intelligence. Applied Soft Computing, 11, 443-448.

 

-    Nguyễn Ngọc Vinh (2013) Hoàn thiện các phương pháp thẩm định giá trị đất đai ở Việt Nam, nhà xuất bản Kinh tế TP. HCM

-    Nguyễn Ngọc Vinh, Nguyễn Quỳnh Hoa (2012) Giáo trình thẩm định giá trị bất động sản, NXB Lao động 

-    Nguyễn Thế Phượng ( 2011) Giáo trình Thẩm định giá bất động sản, nhà xuất bản Phương Đông

-    The Appraisal of Real Estate 14th edition 2013 – Appraisal Institute USA

-    Петров В. И. (2007) Оценка стоимости земельных учасков, Москва.

Petrov V, I (2007) Tài liệu tham khảo “Thẩm định giá trị đất đai” Matxcơva

-    УчебникOценка недвижимости (2004). М. Финансы и статистика,

Giáo trình Thẩm định giá trị bất động sản (2004) Nhà xuất bản tài chính và thống kê

-    Wincott C. R. MAI, (2012) An internative sales analysis approach for vacant land valuation. The appraisal journal, volume LXXXX, number 4, p. 310 -318

Theo VVA

Bình luận

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
popup

Số lượng:

Tổng tiền: